66

Công lý đã không được thực thi

Vụ đánh ghen một thời gây xôn xao dự luận xẩy ra tại thành phố du lịch Vũng Tàu (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) cuối cùng cũng được tòa án thành phố Vũng tàu quyết định đưa vụ án ra xét xử lần sau cùng là ngày 5/4/2013. Theo cáo trạng của viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu (Bà Rịa - Vũng Tàu) bị can Nguyễn Thị Anh bị truy tố về hai tội: làm nhục người khác và cố ý gây thương tích theo khoản 1 điều 221 và khoản 1 điều 104 BLHS; bị can Nguyễn Thị Hương bị truy tố về tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 điều 104 BLHS.

Trong vụ án này người bị hại bị tổn hại 30% sức khỏe. Việc Nguyễn Thị Anh bắt Nguyễn Thị Giang tự lựa chọn cách tự xử vì cho rằng Giang có quan hệ với chồng mình. Việc làm của Nguyễn Thị Anh được Nguyễn Thị Hương hỗ trợ đắc lực do đó Hương là đồng phạm.

Nhận bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp miễn phí cho chị Nguyễn Thị Giang thường trú xóm 8, xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An - là nạn nhân trong vụ án Nguyễn Thị Anh và Nguyễn Thị Hương - vụ án xăm hình con rết lên mặt, ngực nạn nhân xẩy ra tại Thành phố Vũng Tàu; tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tháng 11 năm 2011.

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án chúng tôi thấy kết luận điều tra cũng như cáo trạng truy tố các bị can chưa đúng với hành vi của họ đã gây ra nên đã có đề nghị làm rõ ý thức chủ quan của các bị can này. Chúng tôi cho rằng truy tố theo khoản 1 điều 104 BLHS là chưa phù hợp với hành vi khách quan và ý thức chủ quan của các bị can – Trong vụ án này người bị hại bị tổn hại gần 30% sức khỏe và không hề có lỗi. Việc Nguyễn Thị Anh bắt Nguyễn Thị Giang tự lựa chọn cách tự xử có sự khống chế của Hương chỉ vì nghi ngờ Giang có quan hệ với chồng mình. không có tài liệu nào để có thể nghi ngờ như vậy.

Nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội của các bị can là khi bị can Anh phát hiện trong túi quần của Giang có hơn một triệu đồng. Nghĩ rằng Giang đã quan hệ với chồng mình nên có số tiền đó (lời khai của Anh), đây là sự suy diễn không có cơ sở. Số tiền đó là do khách cho – thực chất của vấn đề này là do Giang không nộp lại số tiền do khách “bo”khi bán dâm theo sự dắt mối của Nguyễn Thị Anh nên sự việc vỡ lỡ do quá đà và được người tham mưu, hướng dẫn cách khai như vậy để tránh né tội phạm của mình (đáng tiếc là cơ quan điều tra và truy tố đã bỏ qua). Hành vi phạm tội của Nguyễn Thị Anh có tính chất côn đồ. Việc làm của Nguyễn Thị Anh được Nguyễn Thị Hương hổ trợ đắc lực do đó Hương là đồng phạm, nên các bị can này - phạm vào điểm i khoản 2 điều 104 BLHS.

Trong các lời khai của Giang, Lan và một số người khác rằng chính Anh đã môi giới mua bán dâm và sau mỗi lần tiếp khách bán dâm họ phải nộp lại cho Anh phần lớn số tiền do khách mua dâm đưa. Điển hình là việc Hương đã dùng chứng minh thư nhân dân của Giang để rút 199,36 USD của một khách hàng tên là Zamora, người Philippin gửi cho Giang tại ngân hàng ACB chi nhánh phường Rạch Dừa, thành phố Vũng Tàu. Điều đó chứng tỏ việc môi giới mại dâm của nguyễn Thị Anh là có thật, nên cần được khởi tố điều tra làm rỏ, để xử lý trước pháp luật.

Trong quá trình làm nhục Giang, bị can Anh được sự hổ trợ của nhiều người như Nguyễn Thị Dung (người đưa tông đơ cho Anh) và các bà Oanh, bà Tám, bà Huyến bà Liễu là chị em ruột và mẹ đẻ của Nguyễn Thị Anh họ đã khống chế, đánh, tát, uy hiếp tinh thần và đưa Giang đi nhiều nơi không cho tiếp xúc với người khác trong thời gian dài (từ 21h30 ngày 26/11/2011 đưa đến nhà bà Huyến khống chế đe dọa cho đến 17g30 ngày hôm sau) – hành vi này có dấu hiệu của tội giữ người trái pháp luật. Những người này không bị xử lý (dù là xử lý hành chính) là lọt.

Nguyễn Thị Anh còn có hành vi hủy hoại tài sản của nạn nhân – theo đơn trình báo của người bị hại thì sau khi Anh làm nhục nạn nhân còn đốt hết quần áo của nạn nhân trị giá 7.000.000đ (sau khi làm nhục nạn nhân Anh đã đuổi hai chị em Lan, Giang về mà không được mang theo thứ gì). Cơ quan điều tra và truy tố đã không đề cập tới vấn đề này là bỏ lọt hành vi hủy hoại tài sản của người khác như qui định tại khoản 1 điều 143 BLHS.

Về thái độ của các bị can và người thân gia đình họ rất đáng trách là sau khi vụ việc xẩy ra đã không quan tâm tới người bị hại, bỏ mặc người bị hại điều đó thể hiện thái độ thiếu ăn năn hối cải. Cả khi được cơ quan bảo vệ pháp luật cho áp dụng biện pháp tạm tha, có thời gian tại ngoại nhưng Nguyễn Thị Anh cũng không một lời hỏi thăm, xin lỗi nạn nhân, mà luôn nêu điều kiện rằng bãi nại sẽ bồi thường…

Tất cả những vấn đề mà luật sư chúng tôi nêu trên đây đã bị quên lãng, không một sự phản hồi – Chúng tôi nghĩ rằng sẽ nêu lại vấn đề tại phiên tòa sơ thẩm…nhưng công lý đã không được quan tâm đúng mức.

Vụ án theo lịch sẽ xét xử ngày 5/4/2013 và từ ngày 1 đến chiều 4/4 thẩm phán chủ tọa đã có trao đổi mang tích chất vận động bị hại làm đơn bãi nại vụ án để được phía gia đình bị cáo bồi thường. Và, phía bị hại đã chấp nhận nhận bồi thường 330.000.000đ và viết đơn bãi nại cho các bị cáo ngay tại phòng làm việc của thẩm phán…theo bị hại và gia đình bị hại lý do mà họ làm như vậy là do họ quá mệt mỏi, đi lại, tốn kém nhiều và họ không còn tin tưởng ở công lý, thà nhận được một khoản tiền để tiếp tục chữa trị cho cháu Giang…Tôi không biết nói thế nào với bị hại và người thân của họ…phải chăng cứ có tiền là mua được tất cả ?

Là luật sư bảo vệ quyền lợi cho người bị hại tôi thấy rằng đây là việc làm không bình thường của vị thẩm phán chủ tọa – Đây không phải là việc hòa giải để thẩm phán đứng ra làm trọng tài; việc người bị hại có tự nguyện rút yêu cầu khởi kiện hay không là do họ; thẩm phán chủ tọa không thể đứng ra hòa giải; trong quá trình đó thẩm phán về hình thức thì nói chỉ là người chứng kiến để cho hai bên thỏa thuận với nhau nhưng thực chất quá trình trao đổi giải thích của thẩm phán tạo cho người bị hại cảm giác thiếu tin tưởng; họ nghĩ rằng thẩm phán không khách quan, đứng về phía gia đình bị cáo, nhất là việc làm đó lại diễn ra ngay trong phòng làm việc của thẩm phán mà không phải nơi tiếp công dân của cơ quan và lại không có mặt luật sư của bị hại (thẩm phán cho rằng việc đó là trách nhiệm của người bị hại – Rất tiếc vị thẩm phán đã cố tình quên quy định tại khoản 1 điều 182 BLTTHS). Là người công tâm, có nghiệp vụ, không lẽ thẩm phán chủ tọa không thấy rằng việc truy tố các bị can nói trên theo khoản 1 điều 104 BLHS là không phù hợp với hành vi khách quan và ý thức chủ quan của các bị can và nếu xác định họ phạm vào điểm i khoản 2 điều 104 thì làm sao mà bãi nại được? Phải để khoản 1 như đã truy tố thì mới vận động được chứ…Ngoài ra còn hành vi hủy hoại tài sản mà bị hại đã có đơn yêu cầu và chứng cứ rất rõ ràng tại sao không truy tố? Phải chăng đồng tiền đã làm mờ mắt, nó bịt miệng bịt tai người có trách nhiệm thực thi công lý ???

Luật sư



 
Tắt Telex Vni
Mã xác nhận:
Trang 1/1
Trang:
 


Trang thông tin điện tử của nndd.vn