36

Uẩn khúc của kẻ mang án chung thân

Đã mười năm trôi qua rồi, hình ảnh về đứa con trai tội nghiệp vẫn ám ảnh trong tâm trí hắn.

Vũ Văn Thủy năm nay mới 40 tuổi nhưng trông già như một ông lão 60, mái tóc bạc phơ, rụng gần hết, khuôn mặt nhăn nheo, mang dấu vết của những đêm dài không ngủ.

Lâu lắm rồi, trong mớ ký ức hỗn độn của hắn, vẫn còn nhớ rất rõ, không có ai đến thăm. 10 năm đằng đẵng trong tù, chỉ một lần duy nhất, vợ hắn đưa cô con gái lên thăm, rồi từ đó biệt vô âm tín. Cả bà chị gái cũng vậy. Hắn quen với cuộc sống một mình, không người thân. Không ai có thể biện hộ cho những tội lỗi của mình, khi hắn mang cái án chung thân vì tội giết người, nhưng tôi biết, trong sâu thẳm người đàn ông cô độc này, có những ẩn ức không nói được bằng lời.

Trong câu chuyện với tôi buổi chiều hôm ấy ở Trại giam Nam Hà, Thủy nói rất nhiều về cậu con trai mà đối với Thủy bây giờ chỉ còn là những ký ức buồn nhưng đáng nhớ nhất trong cuộc đời hắn. “Nếu con trai tôi còn sống, chắc cuộc đời tôi không có kết cục bi đát như ngày hôm nay, nó thông minh, dễ thương lắm, và rất quấn bố, nó là tất cả niềm hy vọng của tôi”.

Đã mười năm trôi qua rồi, hình ảnh về đứa con trai tội nghiệp vẫn ám ảnh trong tâm trí hắn, để khi được dịp, bất kể ai hỏi về gia đình, hắn lại kể say sưa. Kể xong, chợt nhớ ra con trai mình đã về cõi thiên đàng, Thủy lại ôm mặt khóc nức nở, như một đứa trẻ. Với người đàn ông này, dường như nỗi đau về con vẫn luôn thường trực trong tâm trí. Lớn lên ở một vùng đất nghèo ở xã Quang Vinh, huyện Tuần Giáo, Điện Biên, Nguyễn Văn Thủy lấy vợ sớm, chí thú làm ăn, kiếm tiền trang trải gia đình. Nhất là từ khi vợ hắn sinh được cậu con trai, việc làm ăn của hắn gặp nhiều thuận lợi. Đứa con giống như phao cứu mệnh của đời hắn, nên hắn quý con vô cùng. Vả lại, theo cách nghĩ truyền thống của người nông dân, con trai còn là để nối dõi tông đường. Những năm 1990, hắn đã biết vay ngân hàng tiền vốn để làm ăn và chỉ một vài năm sau đã trả hết số nợ. Niềm hy vọng đang được nhen lên từ trong cuộc sống cơ cực thì bỗng một ngày định mênh…

Hắn nhớ lại, đó là ngày mồng 7 tháng 7 năm 1994, dù ký ức đã đi xa lắm rồi, dù con hắn đã về với tổ tiên từ 16 năm trước, nhưng những ám ảnh về cái chết của nó vẫn đeo đẳng mãi. Hắn bảo, con tôi chết rất thảm, nó mới ba tuổi, nhanh nhẹn thông minh, hôm đó nó mải chơi, rơi xuống giếng, thế là mất. Nhưng nó chết rồi để lại trên đời một người cha đau khổ, tuyệt vọng. Đó là một ngày khủng khiếp trong quãng đời của hắn, đẩy Thủy vào ngõ cụt của cuộc đời. Giống như một cái xe mất phanh, cứ thế lao xuống dốc. Chán nản, tuyệt vọng, tóc Thủy gần như bạc trắng. Hắn trở nên u uất, đến cả vợ và con gái cũng không trò chuyện được với hắn. Nếu trước đó, Thủy chí thú làm ăn bao nhiêu, thì sau khi con trai chết, hắn sa đà vào rượu chè, bê tha, thậm chí nghiện ma túy. Gia sản của Thủy đốt theo con ma men và nàng tiên nâu. Đành ràng, nỗi mất mát của gia đình hắn là quá lớn, nhưng Thủy còn cô con gái, còn người vợ tội nghiệp. Thủy cười chua chát, đời thằng đàn ông phải có người nối dõi tông đường chứ, con trai tôi mất đi lấy hết tất cả niềm hy vọng vào cuộc sống của tôi rồi, tôi không còn thiết tha điều gì nữa. Âu đó cũng là nhận thức của những người nông dân, ít học và quanh năm bó chặt đời mình sau lũy tre làng.

Vợ Thủy không chịu nổi cuộc sống sa đà trầm uất của chồng đã đưa con gái về nhà ngoại. Từ đó, cuộc sống của Thủy càng bệ rạc. Thực ra cái nguyên cớ dẫn đến hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Thủy nghe cứ lãng xẹt. Và khi nghe hắn kể lại không ai nghĩ rằng, chỉ vì một nguyên nhân như vậy mà Thủy đã phải đánh đổi cả quãng đời còn lại trong trại giam. Từ ngày con trai mất, vợ bỏ đi, tâm lý của Thủy rất bất an, thậm chí nhiều khi rơi vào trạng thái u uất, trầm cảm.

Ngày định mệnh đó, hắn cùng anh trai đi làm về thì bị Đinh Văn Chình, một gã hàng xóm vốn có mâu thuẫn với gia đình hắn đứng ra chặn đường. Chình luôn cho rằng, anh em Thủy là thủ phạm của vụ đốt cháy đống lúa đang phơi của nhà hắn cách đây mấy ngày, nên tìm gặp để trả thù. Thủy đã bình tĩnh tìm cách giải thích nhưng Chình không chịu nghe, và còn mang dao ra dọa. Vốn tính dễ thất thường, lại có thêm hơi men, Thủy và anh trai đã giết chết Đinh Văn Chình trong cơn giận dữ tột độ. Máu chảy lênh láng. Thủy hoảng sợ, nghĩ cách chạy trốn. Nhưng biết trốn vào đâu, khi trên tay hắn đang cầm con dao đầy máu. Và cuộc đời hắn chẳng còn gì để mất, vợ, con, gia sản, hắn gần như tay trắng, Thủy đã tự nguyện đưa hai tay vào chiếc còng số 8 lạnh lẽo.

Thiếu tá Vũ Hữu Xuyên, trinh sát Trại giam Nam Hà kể, Thủy là một trong những phạm nhân khiến anh gặp nhiều khó khăn trong công tác giáo dục từ những ngày đầu về trại. Lúc đó Thủy rơi vào chứng hoảng loạn, nói nhảm suốt đêm. Chính anh đã gần gũi và trò chuyện nhiều với Thủy. Lúc đầu Thủy còn không hợp tác, sống lặng lẽ như một cái bóng. Nhiều lúc đang giữa đêm khuya bỗng kêu gào khóc lóc. Di chấn từ vết thương lòng về cậu con trai và nỗi ám ảnh tội lỗi đã khiến hắn lúc nào cũng hoảng sợ. Thiếu tá Xuyên đã phải mất rất nhiều thời gian để giúp hắn lấy lại trạng thái cân bằng. Tâm lý không bình thường, lại không có ai lên thăm, khiến hắn trở cô độc đến tội nghiệp. Chị gái, chỗ dựa tinh thần duy nhất của hắn lúc này thì gia cảnh cũng bi đát không kém. Con trai của bà cũng dính vào ma túy, bà tuyệt vọng chẳng còn tâm sức đâu mà lên thăm em. Còn anh trai của Thủy cũng đang thụ án ở Trại Nam, không biết ngày nào về.

Nói đến đây, Thủy lại gục mặt xuống, giá như… hắn không nông nổi như vậy, giá như hắn không sống tiêu cực như thế, giá như hắn có ý thức tốt hơn về cuộc đời mình, có lẽ hắn đã không tự đẩy mình vào bi kịch của ngày hôm nay. Để không những gia đình nhỏ của hắn tan tác, mà anh trai hắn cũng vướng vào vòng lao lý. Còn kết cục nào bi thảm hơn.

“Đời tôi bây giờ chẳng còn gì nữa, vợ tôi nghe đâu đã đi lấy chồng, mà cũng phải thôi, cô ấy phải có cuộc sống mới của mình, ai chờ một kẻ thụ án chung thân như tôi. Không gia đình, không nhà cửa, 10 năm đằng đẵng, tôi đã quen rồi cô ạ”.

Tôi ngồi nói chuyện với Thủy rất lâu, và tôi biết, trong trái tim tưởng như khô cằn của người đàn ông ấy vẫn còn những khát vọng với cuộc đời. Vợ đã bỏ Thủy đi lấy chồng, Thủy không oán giận người đàn bà ấy, mà chỉ mong sao vợ hắn có thể chăm sóc tốt cho cô con gái. Còn cuộc đời hắn, đã gắn bó với đất trại. Lâu rồi hắn không còn ngủ mê. Hắn cũng giao tiếp trò chuyện với mọi người nhiều hơn, chính điều đó làm hắn nhẹ nhõm. Tôi hỏi, sao hắn không viết thư về cho gia đình, Thủy chỉ biết cúi đầu, viết càng buồn hơn, nên hắn không viết. Hắn cũng quen với cảnh một mình với đám bạn tù, không có ai thăm thân.

Dù tôi biết trong đáy mắt người đàn ông này vẫn mong ngóng được một lần có ai gọi đến tên mình phía ngoài cánh cửa sắt lạnh lùng kia. Bởi cuộc đời có lẽ không có gì kinh khủng hơn khi tồn tại trên đời mà không có một người thân thích, không ai trông mong hay chờ đón mình. Với Vũ Văn Thủy, thì 10 năm trong trại có lẽ đã làm hắn chai sạn trong niềm mong mỏi bình thường ấy. Hắn chỉ biết cải tạo thật tốt, để một ngày nào đó còn được gặp lại cô con gái tội nghiệp, đã lớn lên mà thiếu vắng sự yêu thương, quan tâm của một người bố. Hắn biết, hắn có lỗi với con gái, bởi hắn đã dồn tất cả tình yêu cho cậu con trai, và khi nó mất đi, nó mang theo cả những yêu thương và sự quan tâm bình thường của hắn. Hắn có tội với con gái, và hắn mong còn có một cơ hội nào đó được chuộc lại những lỗi lầm của mình.

Vũ Văn Thủy vẫn nhớ rất rõ một số điện thoại của chị gái mà đã gần 5 năm nay không liên lạc, hắn đọc cho tôi một con số rất dài.. với niềm hy vọng mơ hồ nào đó. Những con số hắn vẫn giữ kín trong tiềm thức của mình, như giữ một mối dây liên hệ duy nhất với cuộc đời, với tất cả niềm hy vọng và chờ đợi. Nhưng 5 năm đã trôi qua, bao thay đổi trong 5 năm ấy, và chị gái hắn có thể đã không còn dùng số điện thoại đó nữa. Tôi hỏi hắn, tại sao hắn không chủ động gọi về… Hình như hắn vẫn còn một nỗi sợ mơ hồ nào đó, hắn cũng sợ khi nhấc máy lên, người ta sẽ bảo nhầm, và niềm hy vọng cuối cùng của hắn sẽ tan biến…

Tôi thấy xót xa cho một kiếp người, dẫu những tội lỗi của Vũ Văn Thủy gây ra không thể dung thứ, nhưng tôi hy vọng, bài viết của mình có thể cảnh tỉnh cho rất nhiều những người thiếu hiểu biết ở những vùng núi nghèo khó, đã tự đẩy cuộc đời mình vào những bi kịch, để cuối cùng phải trả giá bằng sự cô độc như Vũ Văn Thủy. Đó là có là cái giá phải trả đau đớn nhất của một kiếp người.


Theo Cảnh sát toàn cầu



 
Tắt Telex Vni
Mã xác nhận:
Trang 1/1
Trang:
 


Trang thông tin điện tử của nndd.vn