81

Sự không thống nhất của cơ quan tố tụng qua hai vụ án…

Vụ án Nguyễn Đức Kiên Tòa bảo cần truy tố…

Việc không truy tố Phạm Trung Cang, Huỳnh Quang Tuấn là bỏ lọt người phạm tội; dù rằng sau khi tòa án Hà Nội thụ lý và trả hồ sơ yêu cầu truy tố bổ sung; cơ quan truy tố đã thay đổi cáo trạng – nhưng ở đây chúng ta thấy có điều gì đó không bình thường? rỏ ràng hành vi của hai người này là có tội, sao lại bảo không, để rồi không truy tố? Phải chăng do trình độ nghiệp vụ non kém của cán bộ hay do ý thức chống tội phạm kém?


Nguyễn Đức Kiên lĩnh án 30 năm tù




Đành rằng cơ quan truy tố, truy tố thêm bị can theo yêu cầu của tòa án là hoạt động tố tụng bình thường của các cơ quan tố tụng, nhưng chúng tôi thấy rất băn khoăn; cơ quan truy tố không phát hiện hết kẻ phạm tội trong một vụ án, lại để cơ quan xét xử phát hiện hộ. Vậy thì vai trò công tố của viện kiểm sát trong trường hợp này nên hiểu thế nào?

Chưa khởi tố vì nhân đạo…

Qúa trình xét hỏi các bị cáo tại tòa cũng như nội dung bản cáo trạng truy tố đều thể hiện Nguyễn Đức Kiên ngoài các hành vi như lừa đảo, cố ý làm trái…thì hành vi trốn thuế của bị can này được sự hổ trợ, giúp sức tích cực của người thân đó là Nguyễn Thúy Hương em gái Kiên và đặc biệt là Đặng Ngọc Lan vợ Kiên. Hai nhân vật này được dư luận đặc biệt quan tâm. Bà Lan và bà Hương là những người thực hiện việc ký hợp đồng theo chỉ đạo của Nguyễn Đức Kiên, giúp Kiên trốn trên 25 tỷ đồng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cty B&B. Bà Lan và Hương là những người liên đới chịu trách nhiệm vì đã nhận ủy thác sai quy định pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa công khai, bà Lan khai nhận: Bà có ký các hợp đồng ủy thác và phân chia lợi nhuận giữa Công ty B&B với bà Hương nhưng trong thời điểm ký hợp đồng này bà đang chuẩn bị sinh con nên không biết gì về việc kinh doanh vàng của Cty B&B.

Mọi việc kinh doanh của Cty B&B đều do Nguyễn Đức Kiên chỉ đạo và trực tiếp thực hiện. Cơ quan điều tra bộ Công an nhận định bà Lan và bà Hương được xem là hai cá nhân có liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh trái phép của Nguyễn Đức Kiên.

Hành vi của bà Hương và bà Lan đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn thuế” với vai trò đồng phạm, giúp sức. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 điều 161 BLHS có hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.

Nhưng hai người này không bị xử lý hình sự trong cùng vụ án. Cơ quan điều tra cho rằng vào thời điểm thực tế khi đó, bà Lan đang mang thai và chuẩn bị sinh con nên để đảm bảo tính nhân đạo của pháp luật, cơ quan điều tra đã đề xuất chưa cần thiết xử lý hình sự đối với hai người này. Với bà Lan đang mang bầu còn bà Hương thì sao? Chúng tôi không đồng tình với quan điểm đó, khi đã xác định có tội thì phải truy tố, xét xử, còn việc buộc chấp hành hình phạt ra sao là vấn đề khác, khi đó người ta có thể nói tới chính sách nhân đạo. Không có chính sách nhân đạo nào nằm ngoài pháp luật. Việc bà Đặng Ngọc Lan và bà Nguyễn Thúy Hương không bị truy tố, xét xử rõ ràng là cơ quan tố tụng đã bỏ lọt người, sót tội. Nhất là cơ quan này xác định họ có hành vi phạm tội mà không khởi tố, truy tố là cách nhận thức không đúng, cảm tính, chủ quan.

Mức án nhẹ nhàng…

Hình phạt mà án sơ thẩm đã áp dụng với các bị cáo nhìn chung là nhẹ. Đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Đức Kiên là đặc biệt nghiêm trọng. Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt đặc biệt lớn (264 tỷ) và hậu quả là đặc biệt nghiêm trọng vì nó gây thiệt hại cho một doanh nghiệp mà trong đó quyền lợi của hằng vạn công nhân bị ảnh hưởng, phạm cả hai tình tiết tại điểm a và b khoản 4 điều 139 BLHS nhưng hình phạt áp dụng chỉ có 20 năm tù là chưa tương xứng với hành vi của bị cáo và không có ý nghĩa trong phòng ngừa chung. Chúng tôi đồng tình với ý kiến của nhiều đại biểu quốc hội trong kỳ họp vừa qua là mức án của bị cáo Kiên quá nhẹ nhàng. Không đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Viện kiểm sát nhân dân Tối cao cần kháng nghị theo hướng tăng hình phạt với các bị cáo, đặc biệt là với bị cáo Kiên.

Vụ án Dương Chí Dũng tòa phúc thẩm giữ nguyên án sơ thẩm với hai bị cáo Dương Chí Dũng và Mai Văn Phúc.

Dương Chí Dũng và Mai Văn Phúc (bên phải).



Trong thời gian chờ xử phúc thẩm vụ án này nhiều chiêu gia bàn luận cho rằng nếu các bị cáo bồi thường tương đối thì có thể được giảm án tử hình và chúng tôi cũng đã có quan điểm của mình – chúng tôi cho rằng các bị cáo Dũng, Phúc bị tử hình về tội tham ô; bị cáo không nhận tội, kêu oan tội này thì việc bồi thường không phải là tình tiết để xem xét giảm án cho tội tham ô. Sau khi xử sơ thẩm gia đình bị cáo Dũng bồi thường được 4,7 tỷ đồng, gia đình bị cáo Phúc bồi thường 3,5 tỷ đồng – với mong muốn hai bị cáo này được giảm án. Tòa án phúc thẩm đã xét xử lại và tuyên giữ nguyên án với các bị cáo Dũng, Phúc.

Chúng tôi cho rằng việc gia đình các bị cáo giúp các bị cáo khắc phục một phần hậu quả do hành vi phạm tội của họ gây ra là rất đáng khuyến khích, điều đó thể hiện trách nhiệm của gia đình và thái độ ăn năn của các bị cáo. Đành rằng do các bị cáo kêu oan tội tham ô nên tòa chỉ xem xét có oan hay không và không xem xét mức hình phạt – mặc dù luật quy định tòa án phải xem xét toàn diện. Nhưng còn đối với tội khác, như tội cố ý làm trái, các bị cáo nhận tội tại sao tòa lại không coi tình tiết nộp tiền bồi thường đó là tình tiết giảm nhẹ của tội cố ý làm trái để giảm án cho họ (cho dù tổng hợp hình phạt vẫn là tử hình). Tòa cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 điều 46 BLHS (đây là tình tiết giảm nhẹ mới xuất hiện sau khi xử sơ thẩm). Trong trường hợp tòa án cấp phúc thẩm không giảm án cho bị cáo, thì phải nhận định hình phạt mà án sơ thẩm đã áp dụng với họ là đã quá nhẹ - Như vậy mới công bằng – trong trường hợp không áp dụng tình tiết đó có nghĩa không thừa nhận hành vi nộp tiền là tình tiết giảm nhẹ, nên chăng tòa phải trả lại họ khoản tiền đã nộp…

V.T.C



 
Tắt Telex Vni
Mã xác nhận:
Trang 1/1
Trang:
 


Trang thông tin điện tử của nndd.vn